• Đài KTCK

    NHỮNG THÔNG TIN CHUNG:

     -         Tên đầy đủ: ĐÀI KHÍ TƯỢNG CAO KHÔNG

    -         Tên tiếng anh: AERO METEOROLOGICAL OBSERVATORY

    -         Tên viết tắt:                                    AMO

    -         Trụ sở chính: Tầng 7. Tòa nhà tác nghiệp khí tượng thủy văn, số 8 Pháo Đài Láng, Đống Đa, Hà Nội.

    -         Điện thoại: 024.3673.199 Máy lẻ 468    Fax: 024. 38358902

    -         Email: vanphongktck@amo.gov.vn      Website: http//www.amo.gov.vn

    -         Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Vinh Thư –Q. Giám đốc

     A.   QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

     Bộ môn khí tượng cao không (KTCK) của nước ta được hình thành từ những năm đầu thập niên sáu mươi của thế kỷ trước với 2 hạng mục quan trắc: thám không vô tuyến (TKVT) và đo gió trên cao bằng kinh vĩ quang học (Pilot). Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, Miền Bắc xã hội chủ nghĩa có 3 trạm TKVT là Hà Nội (4ca/ngày), Vinh (2ca/ngày), Điện Biên (2ca/ngày) và 9 trạm Pilot (1ca/ngày). Ở Miền Nam, chính quyền Sài Gòn cũng xây dựng mạng lưới gồm 2 trạm TKVT là Sài Gòn (2ca/ngày), Đà Nẵng (2ca/ngày) và 8 trạm Pilot (2ca/ngày).

    Sau ngày hoà bình lập lại trên cả nước, chúng ta xây dựng thêm 2 hạng mục nữa, đó là quan trắc mây và các hiện tượng liên quan bằng ra đa thời tiết (Ra đa thời tiết) và quan trắc tổng lượng ô zôn và bức xạ cực tím (TLO3 – BXCT).

    Sau gần 10 năm (1960-1969) các trạm TKVT và pilot ở Miền Bắc hoạt động độc lập với nhiều khó khăn, bất cập, do đó để đưa hoạt động khí tượng cao không vào nề nếp và có sự quản lý kỹ thuật thống nhất, ngày 16/12/1970 Giám đốc Nha Khí tượng đã ban hành quyết định số 241 QĐ/KT  thành lập Đài Khí tượng Cao không trung ương như một phòng trực thuộc Giám đốc Nha với 30 cán bộ  và được chia thành 3 tổ. Do sự phát triển của bộ môn, ngày 1/4/1983 Tổng cục trưởng KTTV đã ban hành quyết định số 92 QĐ/TC nâng Đài Cao không Trung Ương thành Trung tâm, gồm 4 phòng và trạm KTCK Hà Nội với biên chế 62 người. Thực hiện Nghị định 62/CP của Chính phủ, ngày 30/3/1996, Tổng cục trưởng Tổng cục KTTV đã ký quyết định số 165 QĐ/KTTV đổi tên Đài Cao không Trung ương thành Đài Khí tượng Cao không. Sau khi thành lập Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Đài KTCK vẫn giữ nguyên là một đơn vị độc lập trực thuộc Trung tâm KTTV quốc gia. Tuy nhiên, do mạng lưới ra đa thời tiết được mở rộng và ngày càng phát triển, để chỉ đạo tốt mạng lưới này nhằm phát huy hiệu quả của nó, trung tâm KTTV Quốc gia đã cho phép Đài KTCK thành lập thêm phòng Khí tượng Ra đa.

    Ngày 19/3/2003 Giám đốc trung tâm KTTV quốc gia đã ban hành quyết định số 05/QĐ-TTKTTVQG quy định chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Đài KTCK. Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và để đáp ứng kịp thời số liệu phục vụ cho công tác dự báo, Đài Khí tượng Cao không đã xây dựng hệ thống thông tin đảm bảo được thông suốt, truyền, nhận đầy đủ, thời gian thực số liệu KTCK về đúng các địa chỉ sử dụng theo Quy chế hiện hành và đến tháng 10/2008, Đài KTCK được Trung tâm KTTV quốc gia ban hành Quyết định số 786/QĐ-KTTVQG ngày 31 tháng 10 năm 2008 của Tổng giám đốc Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn quốc gia quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Khí tượng Cao không.

    Ngày 8/3/2018 Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã ban hành quyết định số 707/QĐ-BTNMT Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Khí tượng cao không trực thuộc Tổng cục Khí tượng Thủy văn.

    Mạng lưới Khí tượng cao không gồm có các hạng mục:

               1.1. Thám không vô tuyến: Sau năm 1975, do kinh tế còn nhiều khó khăn, chúng ta chỉ duy trì quan trắc ở Điện Biên và Vinh đến năm 1978, đồng thời giảm số lần quan trắc ở Hà Nội còn 2ca/ngày, Đà Nẵng và Tân Sơn Hoà còn 1 ca/ngày. Suốt gần 20 năm sử dụng thiết bị máy móc của Liên Xô vừa cồng kềnh lại hay hỏng hóc, máy thả xấu, bị thải loại đến 40%,  do đó việc quan trắc thường bị gián đoạn và chất lượng số liệu không được tốt. Từ năm 1994 đến nay, sử dụng thiết bị của hãng VAISALA (Phần Lan). Đây là hệ thống thiết bị vào loại hiện đại và tốt nhất thế giới, do đó việc bảo đảm quan trắc liên tục có nhiều thuận lợi, chất lượng số liệu rất tốt, bảo đảm phục vụ cho dự báo thời tiết, nghiên cứu khoa hoc và phục vụ các nhu cầu khác của xã hội. Với sự phát triển của xã hội, sự cần thiết phải mở rộng mạng lưới các trạm thám không vô tuyến để phục vụ cho công tác dự báo, Năm 2006, tại Quyết định số 1871/QĐ-BTNMT ngày 12/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt Dự án “Đầu tư khôi phục 02 trạm thám không vô tuyến phục vụ dự báo khí tượng” thuộc Đề án “Đầu tư cấp bách tăng cường năng lực dự báo khí tượng, thủy văn phục vụ phòng chống thiên tai, trọng tâm là công tác dự báo bão”, Dự án này đã khôi phục 02 trạm TKVT Vinh, Điện Biên và đã đưa vào hoạt động quan trắc nghiệp vụ để phục vụ công tác dự báo từ tháng 7/2008. Hiện tại 3 trạm Hà Nội, Đà Nẵng và Tân Sơn Hòa quan trắc 2 ca/ngày, trạm Vinh, Điện Biên quan trắc 1 ca/ngày.

              Đến nay, Mạng lưới thám không vô tuyến đã được mở rộng lên 6 trạm bao gồm Điện Biên, Hà Nội, Bạch Long Vĩ, Vinh, Đà Nẵng, Tân Sơn Hòa.

    1.2 Quan trắc gió trên cao bằng kinh vĩ quang học (Pilot):

          Đây là hạng mục quan trắc đơn giản, rẻ tiền. Việc thành lập trạm không tốn kém nhiều. Trong chiến tranh (từ 1960 đến 1975) ở cả 2 miền, hạng mục này phát triển và đóng góp xứng đáng cho hoạt động quân sự. Tuy nhiên, Pilot rất phụ thuộc thời tiết do đó độ cao quan trắc thường thấp, đặc biệt là khi thời tiết xấu, rất cần số liệu thì lại không quan trắc được. Vì vậy, đến nay toàn quốc chỉ duy trì quan trắc ở 7 trạm chủ yếu là miền Nam. Hiện mới khôi phục quan trắc ca 13h tại Hà Nội từ tháng 5 năm 2005. Trước mắt, để đáp ứng được nhu cầu hiện tại, một số trạm sẽ được thay thế máy kinh vĩ của Liên Xô bằng máy kinh vĩ điện tử (TD4) của Nhật Bản. Trong tương lai, mạng lưới đo gió bằng kinh vĩ quang học sẽ từng bước được thay thế bằng thiết bị đo gió cắt lớp (Wind Profiler).

    1.3 Quan trắc tổng lượng ô zôn về bức xạ cực tím:

        Nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm soát ô zôn khí quyển, năm 1992 Tổng cục KTTV đã đẩu tư xây dựng trạm TLO3-BXCT đầu tiên tại Hà Nội. Năm 2008, Đài Khí tượng Cao không được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Dự án “Cải tạo, nâng cấp mạng lưới KTCK giai đoạn 2008 – 2010” thì toàn bộ thiết bị đo tổng lượng ô zôn – BXCT M124 của Liên Xô sẽ thay thế bằng thiết bị Brewer. Đến nay, chúng tôi duy trì quan trắc ở 3 trạm: Hà Nội, Sa Pa và TP Hồ Chí Minh

        Bên cạnh đó, từ cuối năm 2004 đến nay, tại trạm TKVT Hà Nội, trung tâm KTTV Quốc gia đang hợp tác với Nhật Bản thuộc Chương trình SOWER/Pacific tổ chức thám sát ô zôn phân tầng 2 lần/tháng để lấy số liệu. Đây là nguồn số liệu quý giá cho chúng ta có thể sử dụng để nghiên cứu.

    1.4 Ra đa thời tiết:

              Hiện nay ra đa thời tiết đang ngày càng được chú trọng trong công tác dự báo, cảnh báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm, đặc biệt là dự báo cực ngắn và dự báo định lượng mưa. Theo chiến lược phát triển ngành đến năm 2020 cả nước sẽ có 10 trạm ra đa thời tiết trên toàn Việt Nam, với 2 chủng loại ra đa thời tiết mới của Vaisala và Nhật Bản. Các ra đa được lắp đặt ở các tỉnh thành phố sau: Phù Liễn- Hải Phòng (1 ra đa doppler S band của Nhật Bản), Việt Trì- Phú Thọ (1 ra đa Pháp), Vinh- Nghệ An (1 ra đa doppler S band của Nhật Bản), Đông Hà-Quảng Trị (1 ra đa C band, doppler của Mỹ), Tam Kỳ- Quang Nam (1 ra đa doppler C band của Vaisala), Nha Trang - Khánh Hòa (1 ra đa doppler Mỹ), Nhà Bè- Thành Phố Hồ Chí Minh (1 ra đa doppler C band của Vaisala). Dự kiến đến năm 2020, các trạm ra đa doppler của Mỹ, Pháp hiện có sẽ được nâng cấp và lắp mới bằng ra đa doppler băng sóng C. Đặc biệt, dự án có thay thế lắp mới 5 trạm ra đa thời tiết phân cực đôi, C band tại Việt trì, Pha đin, Nha Trang, Pleiku, Quy Nhơn. Đây là thế hệ ra đa hiện đại và tiên tiến nhất ở Việt Nam hiện nay. Thế hệ ra đa mới ngoài ưu điểm trong việc tăng cường chất lượng số liệu, ra đa còn hữu ích trong việc nâng cao độ chính xác khả năng dự báo và cảnh báo các thời tiết nguy hiểm với khả năng phân loại hạt. Bên cạnh đó, sự phát triển của cơn dông có thể được nhận biết thông qua các biến phân cực khác nhau do có thể xác định các khu vực nguy hiểm trong cơn dông như khu vực dòng thăng, giáng  v.v. Với khả năng này, các khu vực nguy hiểm có thể được chú tâm theo dõi sự phát triển của các cơn dông; sau đó, cảnh báo và dự báo ngắn hạn cho các cơn dông riêng lẻ và các hiện tượng đi kèm có thể được cải thiện.

              Năm 2018, Đài Khí tượng cao không được Tổng cục Khí tượng Thủy văn phân công nhiệm vụ quản lý và khai thác mạng lưới gồm 18 đầu đo định vị sét được lắp đặt mới trên toàn mạng lưới, hệ thống vệ tinh Himawari. Như vậy, với mạng lưới cao không hiện nay gồm 7 trạm ra đa thời tiết hiện đại, 6 trạm thám không vô tuyến, 3 trạm Brewer đo Ozon-Bức xạ cực tím, 8 trạm Pilot; trong tương lai gần sẽ tăng lên 10 trạm ra đa, 3 trạm ozon-Bức xạ cực tím, 6 trạm thám không thay thế dần các trạm pilot bằng wind profiler, cùng với hệ thống định vị sét, số liệu vệ tinh Himawari, Đài Khí tượng cao không sẽ phát huy hiệu quả trong việc quản lý, phân tích dữ liệu cao không khi có bão, ATNĐ gần bờ và cảnh báo các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như dông, mưa đá, mưa lớn... phục vụ tốt cho công tác dự báo, cảnh báo; góp phần thiết yếu cho việc dự báo thời gian thực, dự báo hiện tại, và để cảnh báo sớm kịp thời các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt.

    B. CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ NĂNG LỰC:

             Hiện nay, Đài KTCK là tổ chức sự nghiệp với gồm 6 tổ chức trực thuộc là: Văn phòng, Phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Quản lý Mạng lưới trạm, Phòng Máy - Thiết bị, Phòng Khí tượng Ra đa và trạm KTCK Hà Nội (theo Quyết định số 707/QĐ-BTNMT ngày 8/3/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài KTCK trực thuộc Tổng cục KTTV).

    Tổng số cán bộ: 70 người trong đó:

    Xếp theo trình độ đào tạo:

    Tiến sĩ:                           01 người, chiếm 1,67 %

    Thạc sĩ:                          14 người, chiếm 23,33 %

    Kỹ sư:                            41 người, chiếm  68,33 %

    Và một số cán bộ khác...                    

    Vị trí và chức năng của Đài KTCK:

    - Đài Khí tượng cao không là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Tổng cục Khí tượng Thủy văn (sau đây gọi là Tổng cục) thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nghiệp vụ và đánh giá hoạt động mạng lưới trạm khí tượng trên cao, ra đa thời tiết, vệ tinh, ô dôn - bức xạ cực tím và định vị sét (sau đây gọi chung là khí tượng cao không); thực hiện các hoạt động dịch vụ về khí tượng thủy văn theo quy định của pháp luật.

    - Đài Khí tượng cao không là đơn vị dự toán cấp III, có tư cách pháp nhân, có con dấu,có tài khoản riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc và Ngân hàng theo quy định của pháp luật; trụ sở tại thành phố Hà Nội.

    Nhiệm vụ và quyền hạn của Đài KTCK:

    1. Xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, quy định kỹ thuật về khí tượng cao không; triển khai thực hiện sau khi được phê duyệt.

    2. Xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án, dự án, nhiệm vụ về khí tượng cao không; kế hoạch mua sắm máy, thiết bị, vật tư cho hoạt động mạng lưới khí tượng cao không; thực hiện sau khi được phê duyệt.

    3. Xây dựng, quản lý, khai thác mạng lưới trạm khí tượng cao không theo phân công của Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thủy văn (sau đây gọi là Tổng cục trưởng).

    4. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chuyên môn nghiệp vụ đối với mạng lưới trạm khí tượng cao không; thực hiện quan trắc khí tượng cao không tại Trạm Khí tượng cao không Hà Nội.

    5. Tiếp nhận, khai thác thông tin và dữ liệu khí tượng cao không do các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng phải cung cấp theo quy định của pháp luật.

    6. Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan theo dõi, phân tích cung cấp thông tin khí tượng cao không 24h/24h khi có bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn và các hiện tượng thời tiết nguy hiểm khác; ra bản tin phân tích, dự báo, cảnh báo theo quy định.

    7. Dự báo khí tượng thủy văn dựa trên các nguồn số liệu khí tượng trên cao, ra đa thời tiết, ô dôn - bức xạ cực tím, vệ tinh và định vị sét theo quy định.

    8. Nghiên cứu, lựa chọn, thử nghiệm các giải pháp kỹ thuật đối với máy, thiết bị, vật tư kỹ thuật khí tượng cao không; đề xuất việc lựa chọn thiết bị chuyên ngành khí tượng cao không để đưa vào mạng lưới.

    9. Bảo dưỡng định kỳ, sửa chữa, kiểm tra, hiệu chuẩn và kiểm định các thiết bị khí tượng cao không theo quy định.

    10. Đánh giá, xếp loại chất lượng hoạt động mạng lưới trạm khí tượng cao không; tiếp nhận, kiểm soát, phúc thẩm, chỉnh lý, lưu giữ và giao nộp dữ liệu khí tượng cao không theo quy định.

      11. Thực hiện hoạt động tư vấn, dịch vụ về khí tượng cao không, bao gồm:

    a) Khảo sát, thiết kế, lắp đặt, giám sát thi công các công trình quan trắc khí tượng cao không; đào tạo, hướng dẫn lắp đặt, vận hành, sửa chữa, hiệu chuẩn máy móc, thiết bị, phương tiện đo khí tượng cao không;

    b) Đo đạc, quan trắc, nghiên cứu, đánh giá, thẩm định chất lượng số liệu khí tượng cao không;

    c) Các hoạt động dịch vụ khác liên quan đến khí tượng cao không theo quy định của pháp luật.

    12. Thực hiện nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và phát triển công nghệ khí tượng cao không theo phân công của Tổng cục trưởng.

    13. Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ kỹ thuật và quan trắc viên thuộc mạng lưới khí tượng cao không.

    14. Tham gia các hoạt động, chương trình, dự án hợp tác quốc tế về khí tượng cao không theo phân công của Tổng cục trưởng.

    ... Thực hiện nhiệm vụ khác do Tổng cục trưởng giao.

     Cơ cấu tổ chức:

    C. NHỮNG THÀNH TỰU ĐẠT ĐƯỢC

         Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Đài Khí tượng Cao không còn tham gia phục vụ một số lĩnh vực, cụ thể:

    + Quan trắc đo gió trên cao bằng kinh vĩ quang học để cung cấp; đánh giá chất lượng số liệu, phân tích số liệu ra đa, ra bản tin cung cấp cho việc điều hành bay tại Đại hội Segame lần thứ 22 được tổ chức tại Sân vận động Mỹ Đình, Thành phố Hà Nội;

    + Quan trắc tăng cường thám không vô tuyến trên toàn quốc để cung cấp, đánh giá chất lượng số liệu, phân tích số liệu ra đa, ra bản tin cung cấp cho việc dự báo thời tiết phục vụ Đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội;

    +  Năm 2007: Thực hiện Dự án “Đầu tư khôi phục 02 trạm thám không vô tuyến phục vụ dự báo khí tượng” thuộc Đề án “Đầu tư cấp bách tăng cường năng lực dự báo khí tượng, thủy văn phục vụ phòng chống thiên tai, trọng tâm là công tác dự báo bão”. Dự án này thực hiện khôi phục 02 trạm thám không vô tuyến và đưa vào hoạt động quan trắc nghiệp vụ chính thức từ ngày 01/7/2008 với chế độ quan trắc 01 ca/ngày;

    +  Năm 2009: Thực hiện Dự án “Cải tạo, nâng cấp mạng lưới các trạm khí tượng cao không giai đoạn 2008 - 2010”. Dự án này đã thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:

      -  Mở mới trạm TKVT Bạch Long Vĩ, đã quan trắc thử nghiệm và sẽ đưa vào quan trắc nghiệp vụ phục vụ công tác dự báo từ ngày 01/01/2012;

     -   Thay thế thiết bị đo tổng lượng ô zôn – BXCT cho toàn mạng lưới ô zôn;

     -  Thay thế thiết bị đo gió trên cao bằng kinh vĩ quang học từ loại thiết bị của Nga sang thiết bị TD4 của Nhật Bản. Chính thức đưa vào quan trắc từ năm 2011;

    -  Thay thế thiết bị đo tổng lượng ô zôn – BXCT cho toàn mạng lưới từ thiết bị của Liên Xô sang thiết bị Brewer của Hà Lan. Đã đưa vào quan trắc nghiệp vụ từ tháng 12/2011;

    - Năm 2017 đánh giá chất lượng số liệu, phân tích số liệu ra đa, ra bản tin cung cấp cho việc dự báo thời tiết phục vụ hội nghị Thương mại Châu Á-Thái Bình Dương AFEC cho khu vực Quảng Nam-Đà Nẵng.